Bao giờ khối nội sản xuất vượt khối ngoại?

Theo báo cáo về tăng trưởng công nghiệp quý I/2017 của Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), khu vực sản xuất trong nước ngày càng trở nên yếu thế hơn so với khối ngoại. Vấn đề không mới nhưng đáng để suy ngẫm với câu hỏi khối nội bao giờ có thể thay đổi cục diện?
Báo cáo của VEPR chỉ ra rằng tình hình tăng trưởng chậm nhất của ngành công nghiệp kể từ năm 2011 chính là bằng chứng mới nhất về một nền công nghiệp còn kém cạnh tranh, chưa thể bắt kịp với xu thế hội nhập sâu rộng của Việt Nam hiện nay.
“Rớt giữa đường” vì thiếu hiểu biết
Cũng trong báo cáo quý I/2017 công bố vào cuối tháng Ba vừa qua, Tổng cục Thống kê lưu ý, khu vực công nghiệp chỉ tăng 3,85% so với cùng kỳ năm 2016, thấp nhất trong sáu năm trở lại đây, góp phần làm tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của quý I/2017 chỉ đạt 5,1%.
Theo VEPR, nền công nghiệp trong nước ngày càng kém cạnh tranh và có khuynh hướng thu hẹp. Trong khi đó, giá trị GDP của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sản lượng của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhất là một số công ty lớn như Samsung của Hàn Quốc.
Theo giới chuyên gia, việc tham gia vào chuỗi cung ứng linh – phụ kiện cho các doanh nghiệp (DN) FDI là điều không thể không làm đối với các DN Việt Nam song với phần lớn là các DN nhỏ và vừa, Việt Nam cũng đang gặp rất nhiều thách thức, rào cản trong việc tham gia được vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, điển hình như Samsung, Intel ở Việt Nam.
Một nghiên cứu của nhóm chuyên gia Đại học Fulbright với Intel trong 10 năm qua cho thấy, với hàng tỷ USD xuất khẩu của Intel, các DN Việt Nam chỉ đóng góp chưa tới 1% giá trị.
Và, 1% đó, theo nghiên cứu của Fulbright, chỉ nhằm vào những phần Intel không thể nhập khẩu, buộc phải sử dụng của các DN Việt như tưới cây, cắt hoa, tỉa cành hoặc một vài túi quà tặng. Người ta nói rằng nếu như nhập khẩu được những thứ đó, có lẽ Intel cũng đã làm luôn rồi!
Theo bà Nguyễn Dạ Quyên, chuyên gia về quản trị cung ứng, Giám đốc vận hành kinh doanh khu vực Đông Nam Á của công ty CEL Consulting, thông thường các DN Việt tham gia được nửa chặng đường thủ tục cung ứng cho DN FDI rồi bỏ cuộc giữa chừng.
Điều này cho thấy các DN Việt cần phải hiểu rõ đường đi của chuỗi cung ứng mới có thể làm được phần thủ tục. Dĩ nhiên, để làm được điều này, DN trước đó phải đảm bảo chất lượng sản phẩm. Cái khó của DN Việt khi bị “rớt giữa đường” là do chưa hiểu hết những yêu cầu đặt ra của các công ty toàn cầu xem phải làm như thế nào?
Ông Chris Humphrey, Giám đốc điều hành của Hội đồng DN ASEAN tiếc cho Việt Nam khi bỏ lỡ quá nhiều cơ hội trong một số ngành công nghiệp chủ lực, chẳng hạn như sản xuất ô tô, nhất là hàm lượng nội địa trong sản xuất ô tô ở Việt Nam còn khá thấp.
Tăng trưởng của công nghiệp quý I/2017 được cho là thấp nhất trong 5 năm trở lại đây
Không tranh thủ được ngoại lực

Vì vậy, khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực, Việt Nam không thể tiếp tục đánh mất cơ hội lần nữa, nhất là trong ba lĩnh vực chính: dược phẩm, ô tô, may mặc/dệt may/giày dép.
Theo nhận định trong một báo cáo của nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), hiện Việt Nam có quá ít DN tư nhân nội địa có quy mô vừa và lớn, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế tạo.
Điều này trái với kỳ vọng, vì thông thường tính hiệu quả về kinh tế theo quy mô cho phép các DN lớn hoạt động hiệu quả hơn. Vậy điều gì lý giải cho kết quả năng suất kém và đang giảm của khu vực sản xuất nội địa so với khối FDI?
Trong vấn đề nhập khẩu, Việt Nam đang phải đối mặt vấn đề nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất vẫn tiếp tục cao ở các thị trường có công nghệ và chất lượng hàng hóa ở mức trung bình như Trung Quốc, Đài Loan… Điều này sẽ gây khó khăn cho Việt Nam trong việc nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất và toàn chuỗi cung ứng cũng như tăng hàm lượng nội địa hóa.
Số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2016 đã cho thấy các mặt hàng nhập khẩu tăng như: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 28,1 tỷ USD (tăng 1,8%); điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27,8 tỷ USD (tăng 20,1%); nguyên – phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5,1 tỷ USD (tăng 1,9%). Chính vì tỷ lệ nội địa hóa thấp, trong khi DN Việt chỉ quen làm gia công, năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu còn hạn chế nên không tránh khỏi chuyện nhập khẩu nhiều nguyên liệu, máy móc, thiết bị từ nước ngoài.
Điều đó cũng lý giải cho tỷ lệ nhập siêu của khối DN FDI luôn cao là do nhu cầu nhập khẩu nguyên – phụ liệu, linh kiện phục vụ cho hoạt động sản xuất tại Việt Nam của các DN này rất lớn. Đồng thời cũng cho thấy liên kết giữa các DN FDI và DN trong nước đến nay vẫn còn rất hạn chế.
Giới chuyên gia lưu ý, trong các dự án FDI có quá ít liên doanh (khoảng 80% FDI ở Việt Nam là DN 100% vốn nước ngoài) và sự liên kết hàng dọc giữa FDI với các công ty trong nước rất yếu (chỉ khoảng đầu vào của FDI được mua tại Việt Nam, trong đó một tỷ lệ đáng kể là mua của các DN FDI khác).
Với năng lực của cả DN nhà nước và DN tư nhân trong nước còn nhiều hạn chế, rõ ràng nội lực của Việt Nam yếu nên không tranh thủ được ngoại lực một cách có hiệu quả. Chính tình hình này đã làm dấy lên mối quan ngại về khả năng có thể xảy ra “hiện tượng Mehico” - một cảnh báo cho việc dựa quá nhiều vào FDI và vài công ty lớn, dẫn đến tình trạng có “hai nền kinh tế trong một quốc gia”.