tháng 3 31, 2017
     Nới lỏng quản lý mở rộng chóng mặt số lượng các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng. Ở Mỹ, luật Glass-Steagall áp đặt phải tách biệt giữa ngân hàng thương mại và thị trường vốn. Sự phân chia tương tự cũng tồn tại ở Nhật. Nhưng những ranh giới đó dần biến mất. Ở những quốc gia nơi “ngân hàng toàn diện” hoạt động, sự chuyển đổi ít quyết liệt hơn nhưng sự phân chia là một di sản của quá khứ thay vì áp đặt do luật, và cũng dần bị gỡ bỏ.

    Phần lớn các tổ chức tín dụng mở rộng những hoạt động ra ngoài kinh doanh truyền thống của họ. Tốc độ tạo ra những sản phẩm mới liên tục cao, đặc biệt với những sản phẩm trong thị trường tài chính, ví dụ như phái sinh. Nghiên cứu cơ hội thị trường và sản phẩm mới thúc đẩy sự phát triển của những lĩnh vực khác ngoài chức năng môi giới của ngân hàng. Các ngân hàng tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mới và đối mặt với những rủi ro mới. Thị phần của hoạt động cho vay truyền thông giảm đi cùng với sự phát triển của các thị trường vốn. Cạnh tranh giành thị phần tăng vọt.

 thị trường vốn


     Rủi ro tăng lên vì cạnh tranh mới, cải tiến sản phẩm, chuyển đổi từ môi giới tài chính sang các thị trường vốn và sự biến mất của các rào cản cũ. Canh tranh tạo ra những nguy cơ mới trong giai đoạn chuyển tiếp. Nới lỏng quy định trong thập kỷ 80 cho phép mọi người tự do tham gia vào những thị trường mới, bao gồm cả những người không có kinh nghiệm.
    Một sự kiện nổi tiếng của nới lỏng quy định và lãi suất cao là sự sụp đổ của các tổ chức “Tiết kiệm và cho vay” cũ, kéo dài một thập kỷ. Ban đầu, nguyên nhân của sự sụp đổ này là rủi ro lệch hạn giữa các khoản vay lãi suất cố định và vay vốn ngắn hạn ả lãi suất hiện hành. Rủi ro trở thành sự thật khi chính sách tiền tệ của Mỹ tăng lãi suất lên mức chưa từng thây để chống lạm phát. Các nhà chức trách cho những tổ chức sống sót nhiều tự do hơn, cho phép các ngân hàng tiếp quản một số chúng trong khi cho phép các ngân hàng địa phương mở rộng hoạt động sang các bang khác, ví dụ như khi tiếp quản một tổ chức đang suy yếu.